h1

h2

h3

h4

h5
h6
Kiểm Soát Amoni Trong Ao Nuôi Thủy Sản

KIỂM SOÁT AMONI TRONG AO NUÔI THỦY SẢN

 

Kiểm soát amoni trong ao nuôi thủy sản là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Đối với bà con thường có các câu hỏi là: Dùng sản phẩm gì để khử amoni? Và, nếu không dùng đến chất hóa học thì kiểm soát amoni nói riêng và nitơ nói chung trong ao như thế nào?

 

 

 

 

Amoni được sinh ra như thế nào?

 

 

 

Có hai nguồn dẫn đến hình thành amoni. NH4 là sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa động vật - tức là sinh ra từ xác tôm dưới đáy ao. Nguồn thứ hai là sự phân hủy protein từ thức ăn và chất thải của động vật. NH4 chuyển thành dạng liên kết độc hại hơn NH3 khi pH cao.

 

 

Nồng độ amoni đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng lên chất lượng ao nuôi cá hoặc tôm thâm canh. Amoniac ở dạng liên kết (NH3) được biết đến là chất gây ô nhiễm phổ biến nhất trong nuôi trồng thủy sản. Dù có ở dạng amoni ít độc hơn (NH4), nó khiến vật nuôi bị căng thẳng và biếng ăn. Kết quả là, tôm hoặc cá dễ mắc bệnh hơn, khả năng hấp thu dinh dưỡng thấp hơn.

 

 

 

Cách kiểm soát amoni  

 

Hiện nay, người ta thường dùng hỗn hợp các vi khuẩn có chứa AOB - thường là Nitrosomonas và Nitrobacter sp để chống lại amoniac cao trong ao. Tuy nhiên cách này cũng có mặt ưu và nhược của nó. Vẫn còn nhiều phương pháp khử amoni khác phù hợp với từng điều kiện ao nuôi khác nhau:

 

 

 

Dùng tảo để hấp thụ amoni - tốt nhất là eukaryotic (tảo xanh).

 

 

 

 

Tảo sử dụng nitơ để sản xuất tế bào trong quá trình quang hợp. Không giống như vi khuẩn lam, tảo eukaryote ít làm thay đổi pH và mùi vị của nước. Cách này chủ yếu là để giảm sản sinh nitơ mới và hấp thụ nitơ hiện có. Tức là phương pháp này hiệu quả hơn khi NH4 chưa chuyển hóa thành nhiều NH3 độc hại. Khi lượng chất độc tăng cao cũng khó để tảo xanh hấp thụ hết. Cuối cùng sẽ có nitơ dư thừa tạo thành tảo sợi.


 

 

 

Bổ sung vi sinh dị dưỡng (vi khuẩn phân hủy chất thải carbon) để tiêu hóa nitơ.

 

 

 

 

 

 

Các vi khuẩn này phân hủy chất thải hữu cơ, bùn và sử dụng nitơ để sản sinh các tế bào mới. Ở điều kiện bình thường vi khuẩn dị dưỡng chỉ hoạt động với mức trung bình. Tuy nhiên với điều kiện môi trường nước ao mới thả và mật độ thả không cao, vi khuẩn dị dưỡng có thể giúp giảm amoniac trong vòng 2 - 4 ngày. 

 

 


 

Kiểm soát amoni bằng vi khuẩn oxy hóa amoniac (AOB).

 

 

 

 

 

 

Để AOB hoạt động tốt đòi hỏi đủ D.O, pH, nhiệt độ mặc dù chúng phát triển tương đối chậm. Bất kỳ tiếp xúc với nhiệt độ cao 40 độ hoặc nhở hơn 5 độ sẽ giết chết phần lớn AOB trong các sản phẩm men vi sinh. Tuy nhiên, chúng rất hiệu quả trong việc chuyển đổi amoniac thành nitrit và sau đó là nitrat.

 

Một số vi sinh thủy sản có hỗ trợ AOB và vi khuẩn dị dưỡng là Aquaculture Management (UK); Pure Aqua và Aqua Cure Tabs (Canada).

 

Xem thêm: Quy trình nitrat hóa


 

Amoni có thể được ngăn chặn thông qua một số việc sau

 

 

Việc thêm các vi khuẩn dị dưỡng nên được bổ sung sớm trước khi ao trở nên mất cân bằng. Với liều nhỏ đều đặn, tăng dần theo số lượng thức ăn và trọng lượng tôm, ao nuôi sẽ giữ cân bằng sinh thái tốt hơn và tôm ít bị căng thẳng hơn. 

 

 

Bổ sung các vi khuẩn AOB khi có các vấn đề nghiêm trọng về amoniac, nếu không vẫn nên ưu tiên quản lý tốt chất lượng ao. Nếu bản chất ao nuôi đã không được làm sạch và chăm sóc tốt thì thêm các loai vi sinh vào cũng sẽ khó phát huy tác dụng.